Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức Y Dược. Hiển thị tất cả bài đăng

12 thg 3, 2013

Người đầu tiên trên thế giới được đặt “lưới” lọc huyết khối

Chia sẻ bài viết này:

Một cụ bà 80 tuổi đã trở thành bệnh nhân đầu tiên trên thế giới được đặt một loại thiết bị giống như lưới đánh cá vào tĩnh mạch lớn ở gần tim để giữ lại những cục máu đông. Các bác sĩ tin rằng thiết bị này có thể cứu cho hàng nghìn người.

Cụ Doreen Carter là người đầu tiên trên thế giới được đặt thiết bị này.

Cụ Doreen Carter là người đầu tiên trên thế giới được đặt thiết bị này.

Các bác sĩ ở Bệnh viện Hoàng gia Berkshire, Reading (Anh) đã đặt cho cụ bà Doreen Carter, 80 tuổi, một loại lưới lọc bằng titan được thiết kế đặc biệt.

Chiếc lưới, có nhiệm vụ giữ lại tất cả những cục máu đông hình thành sau phẫu thuật, được đặt vào tĩnh mạch chủ - một tĩnh mạch lớn của cơ thể đưa máu trở về tim. Toàn bộ thủ thuật kéo dài 15 phút. Cụ Carter cho biết thật vinh dự khi được là bệnh nhân đầu tiên trên thế giới làm thủ thuật này.

Sau khi được đặt vào tĩnh mạch chủ dưới, lưới sẽ được bơm phồng lên và các cục máu đông sẽ bị giữ trong đó giống như cá bị giữ trong hom, ngăn không cho chúng đến phổi.

Cụ Doreen Carter là người đầu tiên trên thế giới được đặt thiết bị này.

Thiết bị - lưới titan nằm trong một ống dài 18 inch (45,72cm).

Các bác sĩ tin rằng thủ thuật này có thể tránh cho hàng nghìn người không bị chết do huyết khối sau mổ.

BS Carl Waldmann, bác sĩ tham vấn tại bệnh viện, cho biết nhiều bệnh nhân bị tăng nguy cơ huyết khối sau mổ, nhưng việc sử dụng các thuốc chống đông có thể gây nguy hiểm.

Tuy nhiên, những biện pháp khác để “bắt giữ” các cục máu đông này cũng mang đến những nguy cơ do rất khó đặt vào và lấy ra khỏi cơ thể.

Ông cho biết loại thiết bị mới “là thứ mà chúng ta có thể đặt vào trong vài ngày và dễ dàng lấy ra”.

Mỗi năm có khoảng 25.000 người Anh tử vong do tắc mạch phổi - xảy ra khi cục máu đông đi vào phổi.

Người phát ngôn của Bệnh viện Hoàng gia Berkshire cho biết: 'Chúng tôi là một trong số 7 bệnh viện tham gia vào dự án - gồm 6 bệnh viện ở Anh và một ở Bỉ. Chúng tôi đã không kỳ vọng trở thành bệnh viện đầu tiên trên thế giới – đội ngũ ở khoa chăm sóc tích cực của chúng tôi chỉ được tập huấn vài giờ trước khi bà Doreen được đưa vào khoa sau ca phẫu thuật”.

BS Carl Waldmann nói thêm: “Với những thiết bị hiện có bệnh nhân phải trải qua một thủ thuật chuyên khoa có thể mất tới 3 giờ đồng hồ. Rõ ràng là việc di chuyển bệnh nhân từ khoa chăm sóc tích cực là điều chúng tôi cố tránh. Thủ thuật mới này có thể tiến hành trong vòng một giờ sau khi bệnh nhân vào khoa và chỉ diễn ra trong 15 phút”.

5 ngày sau khi đặt, thiết bị đã được lấy ra khỏi cơ thể cụ Doreen vì cụ không còn cần đến nó nữa.

YHTH

Theo Dailymail

Chuyên mục: ,

11 thg 3, 2013

Kỹ thuật nội soi thận qua da siêu nhỏ lần đầu tiên tại Việt Nam

Chia sẻ bài viết này:

Hệ tiết niệu gồm thận và đường dẫn nước tiểu, niệu quản, bàng quang, niệu đạo, thận có chức năng chính là bài tiết hầu hết các sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa ra ngoài cơ thể như ure, creatinin, ammoniac, kiểm soát hầu hết nồng độ các chất và thể tích dịch cơ thể...

Sỏi tiết niệu là một trong các bệnh l‎ý phổ biến nhất (30-40% tổng số các bệnh nhân tiết niệu). Trong đó, sỏi thận và sỏi niệu quản chiếm hơn 80%. Hầu hết những người bị sỏi tiết niệu ở vào khoảng 40-50 tuổi. Có nhiều yếu tố gây bệnh sỏi tiết niệu như: di truyền, các dị dạng bẩm sinh đường tiết niệu, nhiễm khuẩn, chế độ ăn uống sinh hoạt không hợp lý...

Hiện tại ở Việt Nam, với tất cả các sỏi thận và niệu quản ở 1/3 trên, có kích thước trên dưới 1cm thì lựa chọn đầu tiên là tán sỏi ngoài cơ thể. Với những sỏi lớn hơn 2cm, phần lớn các bệnh viện vẫn sử dụng phương pháp mổ mở, ngoại trừ một số trung tâm tiết niệu lớn có khả năng áp dụng nội soi thận qua da chuẩn thức (Standard PCNL) như BV Việt Đức, BV Việt Pháp Hà Nội, Học Viện Quân Y (Miền Bắc), BV Trung ương Huế (Miền Trung) và BV Bình Dân, BV Đại học Y TP. HCM… (Miền Nam)

Anh Trương Minh Tuệ, ảnh chụp từ màn hình.

Anh Trương Minh Tuệ, ảnh chụp từ màn hình.

“Nội soi thận qua da chuẩn thức” (Standard PCNL) là phương pháp kỹ thuật cao thay thế cho mổ mở điều trị các bệnh sỏi thận và niệu quản 1/3 trên có kích thước lớn hơn 2 cm. Đây là phương pháp kỹ thuật cao, ít sang chấn có khả năng thay thế cho mổ mở điều trị các sỏi lớn (> 2cm) ở đoạn trên niệu quản và thận, đặc biệt với sỏi san hô. Với một vết rạch 1cm tại vùng lưng, bằng dụng cụ chuyên dụng, các bác sĩ nong một đường hầm nhỏ qua da vào đến thận, tiếp xúc với viên sỏi. Ống nội soi thận có kích thước như một chiếc bút được đặt vào đường hầm đó giúp việc tán và gắp sỏi. Bệnh nhân được lưu viện từ 3- 5 ngày.

Từ tháng 10/2012, qua 10 năm kinh nghiệm áp dụng “Nội soi thận qua da chuẩn thức”, Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội đã cải tiến nâng cao kỹ thuật và lần đầu tiên áp dụng thành công phương pháp “Nội soi thận qua da siêu nhỏ” (Ultra-Mini PCNL) tại Việt Nam dựa trên nguyên lý thu nhỏ tối đa đường hầm vào thận và sử dụng máy nội soi kích thước nhỏ để tán sỏi, giúp giảm thời gian nằm viện xuống còn 1-2 ngày, ít đau và hạn chế tối thiểu biến chứng.

“Nội soi thận qua da siêu nhỏ” được áp dụng trong các trường hợp: Sỏi thận và niệu quản 1/3 trên, có kích thước 1-2cm; các trường hợp thất bại của tán sỏi ngoài cơ thể hoặc nội soi niệu quản; sỏi thận có kèm theo bất thường về giải phẫu, sỏi thận ở trẻ em. “Nội soi thận qua da siêu nhỏ” còn được sử dụng phối hợp với “Nội soi thận qua da chuẩn thức” trong điều trị sỏi san hô phức tạp.

Anh Nguyễn Thanh Tùng, bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp Nội soi thận qua da siêu nhỏ.

Anh Nguyễn Thanh Tùng, bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp
Nội soi thận qua da siêu nhỏ
.

Trao đổi với PV, Bác sĩ Lê Sĩ Trung, Trưởng khoa Tiết niệu bệnh viện Việt Pháp Hà Nội cho biết: “Việc sử dụng máy nội soi kích thước 8F thay thế cho máy nội soi kích thước 26F đã cho phép thu nhỏ đường hầm vào thận hơn 3 lần. Nhờ đó, bệnh nhân ít đau hơn và thời gian nằm viện được rút xuống chỉ còn từ 1- 2 ngày. Hơn thế, tình trạng chảy máu được giảm rõ rệt và đặc biệt là mức độ ảnh hưởng đến nhu mô thận chỉ còn 0,12% (so với kỹ thuật “Nội soi tán sỏi thận qua da chuẩn thức” là 0,91% và ảnh hưởng do mổ mở thậm chí lên tới 7-30%)”.

Anh Trương Minh Tuệ, ở thị xã Sơn Tây, Hà Nội, người từng được điều trị bằng phương pháp “Nội soi thận qua da siêu nhỏ” tâm sự: “Khi tôi bị sỏi tiết niệu, sức khỏe giảm sút, đau lưng, người khó chịu, tiểu đêm nhiều, ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày. Tôi có đi tán sỏi hai lần nhưng không hiệu quả, tôi đã điều trị tại Bệnh viện Việt Pháp theo phương pháp nội soi thận qua da siêu nhỏ, chỉ trong hai ngày đã được xuất viện, cảm giác người khỏe mạnh, đi lại bình thường. Sau khi về, tôi có đi siêu âm tư nhân ở thị xã Sơn Tây, bác sĩ siêu âm ngạc nhiên khi không thấy sỏi, thậm chí còn không phát hiện ra vết mổ nội soi vì quá nhỏ”. 

Một ca mổ Nội soi thận qua da siêu nhỏ tại BV Việt Pháp do BS Lê Sĩ Trung thực hiện.

Một ca mổ Nội soi thận qua da siêu nhỏ tại BV Việt Pháp
do BS Lê Sĩ Trung thực hiện
.

Trao đổi với chúng tôi tại khoa tiết niệu BV Việt Pháp Hà Nội, anh Nguyễn Thanh Tùng, ở Nguyễn Trãi, Ân Thi, Hưng Yên cho biết: “Tôi phát hiện sỏi thận 2 năm, cũng từng đi tán, nhưng bị sót sỏi và rơi xuống đài dưới thận. Sau khi xem chương trình Sức khỏe cho mọi người trên VTV2, biết được phương pháp “Nội soi thận qua da siêu nhỏ”, tôi tìm hiểu và đăng ký điều trị. Thời gian điều trị nội soi chỉ 2 ngày nhưng cơ thể khỏe mạnh, không đau, ăn uống được bình thường nên tôi xin xuất viện”.

Theo Bác sĩ Lê Sĩ Trung, Ủy viên BCH Hội tiết niệu thận học Việt Nam, tác giả cuốn sách “Phẫu thuật nội soi thận qua da”, đã được nhà xuất bản Y học ấn hành năm 2004 cho biết, “Nội soi thận qua da chuẩn thức” là phương pháp được Bệnh viện Việt Pháp Hà Nội áp dụng thường quy. Cuối tháng 8/2012, tại Hội nghị Tiết niệu Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Patttaya, Thái Lan, ông đã rất ấn tượng với  phương pháp “Nội soi thận qua da siêu nhỏ” do các GS khoa Tiết niệu, Singapore General Hospital trình bày. Khi về nước, ông đã nghiên cứu và lần đầu tiên ứng dụng thành công phương pháp này. Cùng với các phương pháp kỹ thuật cao ít xâm hại, “Nội soi thận qua da siêu nhỏ” thực sự trở thành một đóng góp lớn trong điều trị ngoại khoa sỏi tiết niệu ở Việt Nam.

YHTH
Nguồn: BV Việt Pháp

Chuyên mục: ,

8 thg 3, 2013

Những vụ thử nghiệm y khoa đáng hổ thẹn

Chia sẻ bài viết này:

Hãng tin AP sau một thời gian dài thu thập đủ thông tin đáng tin cậy đã tiết lộ những bí mật của các nhà khoa học Mỹ trong việc sử dụng những người bị mất quyền tự do vào những thí nghiệm. Dưới đây là câu chuyện chi tiết.

Những chương trình nghiên cứu y khoa bị giấu nhẹm

Một thông tin gây chấn động trên toàn thế giới khi các bác sĩ của Chính phủ Mỹ vẫn còn quan điểm cho rằng, không gì tốt hơn những đợt thử nghiệm y khoa được áp dụng trên chính cơ thể những người tàn tật và các phạm nhân. Những vụ thử nghiệm này bao gồm nghiên cứu về bệnh viêm gan đối với những bệnh nhân mắc bệnh tâm thần ở bang Connecticut; phun virut cúm dịch hạch lên mũi của các phạm nhân tại bang Maryland hay rùng rợn hơn là tiêm trực tiếp những tế bào gây bệnh ung thư vào cơ thể những người mắc bệnh mạn tính tại một bệnh viện ở New York. Phần lớn “vật thí nghiệm” là những người trong khoảng từ 40 - 80 tuổi. Một hội nghị khoa học về sinh học được tổ chức ở Washington vừa diễn ra, các quan chức Mỹ cũng lên tiếng thừa nhận đã có hàng chục vụ thử nghiệm tương tự như vậy tại Mỹ và thực tế rằng, những người đang bị bệnh thì qua đợt thử nghiệm đã trở nên ốm nặng.

Những vụ thử nghiệm y khoa đáng hổ thẹn 1

Một thử nghiệm trên người nhằm tìm ra thuốc chống sốt rét tại Mỹ.

Một nguồn tin từ hãng tin AP đã tiết lộ rằng Chính quyền Mỹ đã từng thử nghiệm ít nhất là hơn 40 trường hợp trên cơ thể con người. Chi tiết hơn, các quan chức y tế Mỹ đã tiến hành theo dõi khoảng 600 người đàn ông da đen sinh sống ở bang Alabama, những người này mắc bệnh giang mai nhưng lại được điều trị đầy đủ nhất ngay cả sau khi thuốc penicillin đã được bán trên thị trường. Những cuộc nghiên cứu này đã cố tình làm sai lệch đi nguyên tắc đầu tiên của ngành y tế đó chính là “Không gây nguy hại cho các bệnh nhân” - một nguyên tắc y tế cơ bản đã tồn tại trong suốt nhiều thế kỷ.

Cách đây nhiều năm, những căn bệnh truyền nhiễm đã làm chết khá nhiều người và các bác sĩ đang làm việc hết tốc lực để phát minh và thử nghiệm các phương pháp chữa trị mới. Đối tượng phải tham gia thử nghiệm chính là các phạm nhân, người bị bệnh tâm thần và cả những người da đen nghèo khổ.

Những thí nghiệm nghiên cứu lập lờ từ phía các tình nguyện viên

Những chương trình nghiên cứu trong thập niên năm 1940 đã lưu ý đến cái tên của BS. W. Paul Havens Jr. khi ông này tham gia nghiên cứu một bệnh nhân bị viêm gan trong một chuỗi các thí nghiệm, trong đó có sử dụng các bệnh nhân bị bệnh tâm thần từ Middletown và Norwich, bang Connecticut. Vào cuối thập niên năm 1940, Trường đại học Minnesota (Mỹ) đã tiêm vào 11 tình nguyện viên các virut gây bệnh sốt rét rồi bỏ đói họ trong vòng 5 ngày. Sau đó, những người đàn ông này bị sụt trung bình là 14 cân Anh. Họ được điều trị căn bệnh sốt rét bằng quinine sulfate.

Trong đợt nghiên cứu vào năm 1957, khi đại dịch cúm châu Á đang lan truyền, các nhà nghiên cứu liên bang Mỹ đã tiêm virut cúm này vào mũi của 23 phạm nhân tại nhà tù Patuxent ở Jessup, bang Maryland, nhằm so sánh những phản ứng của họ đối với 32 phạm nhân đang bị phơi nhiễm virut, những người đang được điều trị bằng một liều vaccin mới. Vào thập niên 1950, các nhà nghiên cứu chính phủ đã cố gắng để lây nhiễm khoảng 20 phạm nhân với căn bệnh lậu bằng việc sử dụng 2 phương pháp thử nghiệm khác nhau tại một trại phục hồi nhân phẩm liên bang ở thành phố Atlanta. Vi khuẩn gây bệnh lậu đã được bơm trực tiếp vào đường tiết niệu thông qua dương vật của họ. Những người đàn ông nhanh chóng phát triển căn bệnh này, nhưng các nhà nghiên cứu xác định rằng, phương pháp này không thể đem so sánh với những người đàn ông mắc bệnh lậu bình thường qua quan hệ tình dục. Sau đó, họ được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Cuộc thử nghiệm này đã được đăng tải trên tờ tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ, nhưng không đề cập đến nó trong các kho văn thư lưu trữ.

(Theo AP)

NGUYỄN THANH HẢI

Chuyên mục: ,

5 thg 3, 2013

Chữa thành công trẻ sơ sinh nhiễm HIV

Chia sẻ bài viết này:

Chữa thành công trẻ sơ sinh nhiễm HIV

Hôm 3-3, một bé gái ở bang Mississippi, Mỹ đã được chữa khỏi virus HIV. Nếu thành công hoàn toàn, đây sẽ là trường hợp thứ hai trên thế giới được chữa khỏi loại virus gây căn bệnh thế kỷ AIDS.


        Có thể phòng tránh lây nhiễm HIV từ mẹ sang con nếu được phát hiện sớm - Ảnh: One.org
Bé gái trên được sinh ra tại một bệnh viện ở vùng nông thôn nước Mỹ hồi tháng 7-2010. Các bác sĩ phát hiện người mẹ bị nhiễm HIV. Do người mẹ không được điều trị HIV tiền sản nên nguy cơ trẻ bị nhiễm HIV rất cao. Bé gái ngay lập tức được chuyển đến trung tâm y tế Trường đại học Mississippi ở thành phố Jackson dưới sự điều trị của chuyên gia HIV Hannah Gay.

Bác sĩ Gay đã dùng 3 loại thuốc trị HIV là zidovudine (hay còn gọi là AZT), lamivudine và nevirapine cho bé gái khi bé vừa chào đời 30 giờ trước đó.
Thông thường, khi người mẹ nhiễm HIV sử dụng thuốc để giảm nguy cơ lây nhiễm cho con trước khi sinh, đứa trẻ sẽ chỉ dùng thuốc nevirapine để điều trị HIV.

Sau khi bắt đầu điều trị, hệ thống miễn dịch của bé cho thấy virus có chiều hướng giảm dần. Bé gái tiếp tục được điều trị 18 tháng sau đó. Sau 10 tháng ngừng điều trị, kết quả thật bất ngờ khi HIV hoàn toàn biến mất trong cơ thể bé.

Trường hợp chữa khỏi virus HIV này khác với trường hợp của ông Timothy Ray Brown, người đầu tiên trên thế giới được chữa khỏi HIV vào năm 2007, từng được đề cập trong các tạp chí y tế với bí danh “Bệnh nhân Berlin”. Kinh phí chữa cho bé gái ở bang Mississippi ít tốn kém hơn so với các phương pháp chữa trị đắt tiền như của ông Brown. Bé gái này được chữa trị bằng cách cho dùng kết hợp các thuốc được sử dụng rộng rãi trong việc điều trị HIV ở trẻ em.

“Tôi tin rằng trường hợp của Timothy Brown đã thúc đẩy sự quan tâm nghiên cứu về phương pháp chữa virus HIV cho trẻ em”, tiến sĩ virus học Deborah Persaud tại Bệnh viện Đại học Hopkins ở Baltimore cho biết.

Nhiều cuộc thử nghiệm tiếp theo đã được tiến hành để xác định xem phương pháp điều trị có tác dụng tương tự với các trẻ em khác hay không. “Đây là bằng chứng để chứng minh rằng trẻ sơ sinh có tiềm năng được chữa khỏi HIV” - tiến sĩ Persaud trình bày phát hiện mới trong buổi hội thảo y khoa tổ chức ở Atlanta.

Tại Mỹ, những trường hợp như vậy tương đối hiếm vì phụ nữ mang thai thường xuyên được xét nghiệm và điều trị trong quá trình mang thai. Năm 2011, khoảng 300.000 trẻ em sinh ra đã nhiễm HIV. Tại các nước nghèo, chỉ khoảng 60% phụ nữ mang thai nhiễm HIV được điều trị để tránh truyền virus sang bào thai.
theo TTO

Chuyên mục: , , , ,

25 thg 2, 2013

5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol

Chia sẻ bài viết này:

Có nhiều suy nghĩ sai lầm về cholesterol và bệnh tim mạch mà chúng ta vẫn hay gặp phải. Dưới đây là 5 sai lầm thường gặp trong chế độ ăn uống của mỗi người.

HDL cao bảo vệ tim mạch
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 1
Nghiên cứu đăng trên tạp chí The Lancet chỉ ra rằng chỉ số HDL (cholesterol tốt) cao không trực tiếp giúp chống lại bệnh tim. Thông tin mới này có thể làm thay đổi suy nghĩ của chúng ta về cholesterol HDL (tốt), LDL (xấu) và sức khỏe tim mạch khi hầu hết đều cho rằng nếu cholesterol LDL cao sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, còn HDL cao sẽ giúp có trái tim khỏe mạnh.
 
Nghiên cứu được tiến hành trên những người có tỷ lệ cholesterol HDL cao tuy nhiên bị mắc phải các triệu chứng bệnh tim (không có di truyền gen). Các nhà nghiên cứu tìm ra rằng nhóm có tỷ lệ HDL cao vẫn có tỷ lệ mắc bệnh tim đáng kể. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa HDL là cholesterol xấu. Những thói quen có lợi cho sức khỏe như luyện tập thể dục, thể thao và ăn uống đầy đủ chất xơ, chất béo không bão hòa đơn sẽ làm tăng HDL và làm giảm nguy cơ bệnh tim cho chúng ta.
 
Không nên ăn tôm (hoặc thức ăn hàm lượng cholesterol cao) nếu cholesterol cao
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 2
Thông thường nếu bệnh nhân có cholesterol cao sẽ phải có chế độ ăn kiêng phù hợp và tránh các thực phẩm chứa nhiều cholesterol. Không hẳn là vậy. Chúng ta cần biết chất béo bão hòa có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng hay giảm tỷ lệ cholesterol. Do vậy việc ăn kiêng các thực phẩm có hàm lượng cholesterol cao là không đúng khoa học. Bổ sung trứng, tôm và các thực phẩm chứa cholesterol trung bình khác sẽ là một chế độ ăn bổ dưỡng cho sức khỏe.
 
Khoai tây chiên chứa cholesterol
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 3
Khoai tây chiên cùng với các loại hoa quả, rau và ngũ cốc nguyên hạt không chứa cholesterol. Tuy nhiên, để chắc chắn cần kiểm tra kỹ chất béo bão hòa trong bảng dinh dưỡng trên túi khoai tây vì đây là chất thường sản sinh ra nhiều cholesterol. Khoai tây miếng cũng là loại thực phẩm có hàm lượng calo cao.
 
Ngũ cốc yến mạch nướng - thực phẩm làm giảm cholesterol tốt nhất
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 4
Thực tế là các loại ngũ cốc yến mạch này có một số chất xơ hòa tan giảm hàm lượng cholesterol, tuy nhiên bạn có thể hấp thụ hàm lượng cao hơn từ các loại thực phẩm như bột yến mạch, chuối, lê, đậu và cây họ cam quýt. Nếu bạn có ý định thưởng thức loại ngũ cốc này, cần đảm bảo đủ hàm lượng chất xơ vào buổi sáng bằng hoa quả.
 
Muốn giảm cholesterol, ăn nhiều đậu nành
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 5
Nghiên cứu chỉ ra rằng protein đậu nành có ảnh hưởng không đáng kể. Lợi ích thực sự có thể liên quan đến việc sử dụng đậu nành như một loại thực phẩm thay thế cho các thực phẩm có hàm lượng chất béo bão hòa cao. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nếu muốn giảm cholesterol, không chỉ bổ sung thực phẩm giàu protein đậu nành mà cần đảm bảo chất xơ, sterol thực vật và các loại hạt như hạnh nhân.
 
Lưu ý: Cần giảm cholesterol LDL và tăng cholesterol HDL bằng cách: luyện tập thể dục thể thao, ăn chất béo không bão hòa đơn (như trong oliu, dầu canola và trái bơ) thay cho chất béo bão hòa và trans fat; bổ sung thêm chất xơ hòa tan.

Theo Dân trí
Chuyên mục: , ,

5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol

Chia sẻ bài viết này:

Có nhiều suy nghĩ sai lầm về cholesterol và bệnh tim mạch mà chúng ta vẫn hay gặp phải. Dưới đây là 5 sai lầm thường gặp trong chế độ ăn uống của mỗi người.

HDL cao bảo vệ tim mạch
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 1
Nghiên cứu đăng trên tạp chí The Lancet chỉ ra rằng chỉ số HDL (cholesterol tốt) cao không trực tiếp giúp chống lại bệnh tim. Thông tin mới này có thể làm thay đổi suy nghĩ của chúng ta về cholesterol HDL (tốt), LDL (xấu) và sức khỏe tim mạch khi hầu hết đều cho rằng nếu cholesterol LDL cao sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, còn HDL cao sẽ giúp có trái tim khỏe mạnh.
 
Nghiên cứu được tiến hành trên những người có tỷ lệ cholesterol HDL cao tuy nhiên bị mắc phải các triệu chứng bệnh tim (không có di truyền gen). Các nhà nghiên cứu tìm ra rằng nhóm có tỷ lệ HDL cao vẫn có tỷ lệ mắc bệnh tim đáng kể. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa HDL là cholesterol xấu. Những thói quen có lợi cho sức khỏe như luyện tập thể dục, thể thao và ăn uống đầy đủ chất xơ, chất béo không bão hòa đơn sẽ làm tăng HDL và làm giảm nguy cơ bệnh tim cho chúng ta.
 
Không nên ăn tôm (hoặc thức ăn hàm lượng cholesterol cao) nếu cholesterol cao
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 2
Thông thường nếu bệnh nhân có cholesterol cao sẽ phải có chế độ ăn kiêng phù hợp và tránh các thực phẩm chứa nhiều cholesterol. Không hẳn là vậy. Chúng ta cần biết chất béo bão hòa có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng hay giảm tỷ lệ cholesterol. Do vậy việc ăn kiêng các thực phẩm có hàm lượng cholesterol cao là không đúng khoa học. Bổ sung trứng, tôm và các thực phẩm chứa cholesterol trung bình khác sẽ là một chế độ ăn bổ dưỡng cho sức khỏe.
 
Khoai tây chiên chứa cholesterol
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 3
Khoai tây chiên cùng với các loại hoa quả, rau và ngũ cốc nguyên hạt không chứa cholesterol. Tuy nhiên, để chắc chắn cần kiểm tra kỹ chất béo bão hòa trong bảng dinh dưỡng trên túi khoai tây vì đây là chất thường sản sinh ra nhiều cholesterol. Khoai tây miếng cũng là loại thực phẩm có hàm lượng calo cao.
 
Ngũ cốc yến mạch nướng - thực phẩm làm giảm cholesterol tốt nhất
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 4
Thực tế là các loại ngũ cốc yến mạch này có một số chất xơ hòa tan giảm hàm lượng cholesterol, tuy nhiên bạn có thể hấp thụ hàm lượng cao hơn từ các loại thực phẩm như bột yến mạch, chuối, lê, đậu và cây họ cam quýt. Nếu bạn có ý định thưởng thức loại ngũ cốc này, cần đảm bảo đủ hàm lượng chất xơ vào buổi sáng bằng hoa quả.
 
Muốn giảm cholesterol, ăn nhiều đậu nành
5 hiểu lầm thường gặp về cholesterol 5
Nghiên cứu chỉ ra rằng protein đậu nành có ảnh hưởng không đáng kể. Lợi ích thực sự có thể liên quan đến việc sử dụng đậu nành như một loại thực phẩm thay thế cho các thực phẩm có hàm lượng chất béo bão hòa cao. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nếu muốn giảm cholesterol, không chỉ bổ sung thực phẩm giàu protein đậu nành mà cần đảm bảo chất xơ, sterol thực vật và các loại hạt như hạnh nhân.
 
Lưu ý: Cần giảm cholesterol LDL và tăng cholesterol HDL bằng cách: luyện tập thể dục thể thao, ăn chất béo không bão hòa đơn (như trong oliu, dầu canola và trái bơ) thay cho chất béo bão hòa và trans fat; bổ sung thêm chất xơ hòa tan.

Theo Dân trí
Chuyên mục: , ,

30 thg 1, 2013

Sẽ có vaccine phòng mụn trứng cá

Chia sẻ bài viết này:

Nhà sản xuất vaccine lớn nhất thế giới, Sanofi-Pasteur, vừa ký với ĐH California (Mỹ) hợp đồng phát triển vaccine phòng mụn trứng cá.

Hơn 85% thiếu niên và trên 40 triệu người Mỹ bị mụn trứng cá.
Hơn 85% thiếu niên và trên 40 triệu người Mỹ bị mụn trứng cá. 
Thủ phạm chính là vi khuẩn trong tuyến tiết chất nhờn. Các phương pháp trị trứng cá hiện nay như dùng benzoyl peroxide, thuốc kháng sinh… có tác dụng diệt khuẩn, nhưng mụn trứng cá thường tái xuất hiện, và việc dùng kháng sinh lâu dài có thể dẫn đến kháng thuốc, trong khi thuốc diệt khuẩn có thể làm hại da.
Một khó khăn lớn trong việc nghiên cứu mụn trứng cá là không thể thí nghiệm với động vật vì chuột bạch, chuột lang… không có mụn trứng cá. Vì vậy, các nhà nghiên cứu tiêm vi khuẩn vào da ở tai chuột, gây sưng giống như mụn nhọt. Kết quả là những con chuột được tiêm vaccine không bị sưng tai như ở nhóm đối chứng.
Nhóm nghiên cứu còn sử dụng một phương pháp khác: tạo vaccine từ một protein tên làCAMP mà các vi khuẩn dùng để giết tế bào chủ. Họ tìm thấy gene CAMP trong chuỗi gene của vi khuẩn gây mụn trứng cá.
Theo Đất Việt
Chuyên mục: ,

Vitamin E có thể làm giảm nguy cơ ung thư gan.

Chia sẻ bài viết này:
Theo nghiên cứu vừa được công bố trên trên Tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia, Trung Quốc, nếu cơ thể người được hấp thụ nhiều Vitamin E có thể làm giảm nguy cơ ung thư gan.
Vitamin E là một vitamin tan trong chất béo, được xem là một chất chống oxy hóa và nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cho rằng vitamin E có thể ngăn chặn hủy hoại DNA.

Hiện nay, ung thư gan là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 trong những căn bệnh ung thư trên thế giới, ung thư phổ biến thứ 5 ở nam giới và thứ 7 ở phụ nữ. Đồng thời, có đến 85% ung thư gan xảy ra ở các nước đang phát triển.
Để xác định mối quan hệ giữa lượng vitamin E và nguy cơ ung thư gan, các nhà nghiên cứu từ Đại học Giao thông Thượng Hải đã phân tích dữ liệu từ tổng cộng 132.837 cá nhân ở Trung Quốc, đây là những người đã ghi danh vào Nghiên cứu sức khỏe phụ nữ Thượng Hải (SWHS) từ 1997-2000 và Nghiên cứu sức khỏe Đàn ông Thượng Hải (SMHS) từ 2002-2006.
Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các câu hỏi dưới dạng tần số để thu thập dữ liệu về thói quen ăn uống của người tham gia. Họ đã được hỏi về mức độ tiêu thụ một số loại thực phẩm phổ biến trong đô thị Thượng Hải, kể cả những trường hợp đã bổ sung vitamin.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã so sánh nguy cơ ung thư gan giữa những người có lượng vitamin E lớn với những người có lượng thấp và thấy rằng mối quan hệ giữa liều lượng vitamin E và nguy cơ ung thư gan trong cơ thể có tỉ lệ nghịch với nhau. Do đó, các nhà khoa học tin rằng Vitamin E có tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư gan trên cơ thể con người.

 
Duy Anh (Theo Xinhuanet)


Chuyên mục: ,

Thuốc ngăn chặn đột quỵ và đau tim.

Chia sẻ bài viết này:
Các nhà khoa học Anh vừa phát hiện ra một loại thuốc có thể ngăn chặn được những căn bệnh đau tim hay đột quỵ cho những người có độ tuổi từ 50 trở lên và có tác dụng trong khoảng thời gian 11 năm, họ đặt tên là “polypill”.

(Ảnh: Medicaldaily)
Nghiên cứu trên vừa được công bố bởi các nhà khoa học thuộc Đại học Queen Mary ở London hôm thứ Năm, đồng thời họ còn cho biết thêm đây là một viên thuốc ba lớp giúp hạ thấp huyết áp và giảm lượng cholesterol trong cơ thể, đó là những nguyên nhân chính gây ra những cơn đột quỵ và đau tim.
Những viên thuốc này đã được thử nghiệm trên những người không có tiền sử bệnh tim mạch có độ tuổi từ 50 trở lên và chúng có tác dụng làm giảm 12% huyết áp và 39% lượng cholesterol có hại, theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí PLoS One.
Tiến sĩ David Wald, người tham gia nghiên cứu loại thuốc trên cho biết: "Các tác động đến sức khỏe của loại thuốc trên là rất lớn. Ước tính sẽ có khoảng 28% người có độ tuổi từ 50 trở lên được tránh hoặc trì hoãn các cơn đau tim và đột quỵ”.
"Trung bình, những người sử dụng thuốc sẽ không có bất kỳ một cơn đau tim hay đột quỵ trong suốt 11 năm."
Theo các nhà nghiên cứu, loại thuốc này là giả dược đã được thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, cho nên kết quả của nó có độ chính xác cao và đáng tin cậy.
Hiện tại, các nhà nghiên cứu đang kêu gọi hỗ trợ để “polypill” đến được với cộng đồng và ước tính nếu khoảng 50% người có độ tuổi từ 50 trở lên uống thuốc thì sẽ có khoảng 94.000 cơn đau tim và đột quỵ được ngăn chặn ở Anh mỗi năm.

Duy Anh (Theo Xinhuanet)



Chuyên mục: ,

28 thg 1, 2013

Thuốc ngừa thai uống dành cho nam giới

Chia sẻ bài viết này:
Thuốc ngừa thai uống dành cho Nam giới
BS.Lê Đăng Khoa
(Theo malecontraceptive.org)


Tháng 11 năm 2006, hai bác sĩ Nnaemeka Amobi và Christopher Smith tại đại học King, Luân Đôn đã gây sự chú ý khi khám phá ra hai loại thuốc có công dụng ngừa thai dành cho nam giới từ năm 1995. Đó là phenoxybenzamine-một loại thuốc trị cao huyết áp và thioridazine- loại thuốc trị tâm thần phân liệt.
Cơ chế hoạt động?
Trong suốt giai đoạn kích thích tình dục, một ít tinh trùng từ mào tinh được đẩy  ra  bằng sự co thắt cơ trơn dọc theo ống dẫn tinh. Khi đến đoạn niệu đạo, tinh trùng sẽ trộn với dịch túi tinh và tiền liệt tuyến để hình thành tinh dịch. Cuối cùng, trong giai đoạn cực khoái, tinh dịch được tống xuất ra đường niệu đạo bằng sự co thắt của cơ trơn nhiều hơn và xuất tinh. Cơ trơn trong hệ thống sinh sản nam giới co giãn một cách vô thức tuỳ theo tín hiệu của hệ thần kinh tự trị.
BS.Amobi và Smith khám phá ra rằng hai thuốc họ nghiên cứu có khả năng làm gián đoạn vận chuyển tinh trùng bằng cách thay đổi cách hoạt động cơ trơn của ống dẫn tinh trong giai đoạn cực khoái. Ống dẫn tinh có hai loại cơ trơn khác nhau: sợi cơ vòng và cơ dọc. Thông thường, hai loại cơ này hoạt động phối hợp cùng nhau để di chuyển tinh trùng vào niệu đạo. Nhưng khi đoạn ống dẫn tinh được đưa ra tiếp xúc với phenoxybenzamine/thioridazine  (trong điều kiện lab) thì sợi cơ trơn không co lại. Cơ vòng có co lại nhưng kẹp chặt làm ống dẫn tinh đóng lại (Amobi et al 2003).
Các nhà nghiên cứu giả định rằng tác động co thắt này gây vô sinh ở nam giới sử dụng thuốc, do tinh trùng bị chặn lại không cho trộn lẫn với tinh dịch. (những thuốc cũng có những hiệu quả khác góp phần gây vô sinh, xem bên dưới). BS.Amobi và Smith cũng đã quan sát thấy hiệu quả của những thuốc tương tự tác động trên ống dẫn tinh (Amobi et al 2002, 2006). Họ cũng thành công trong việc nhận diện những thuốc khác có tác dụng ngừa thai tương tự nhưng ít tác dụng phụ hơn.Tác dụng của Thioridizine quá dữ dội đến mức phải ngưng sản xuất vào năm 2005 (WHO 2005); tác dụng phụ thông thường của phenoxybenzamine thay đổi từ chóng mặt, nhịp tim nhanh đến nghẹt mũi (Mayo Clinic 1998).
Mặc dù chưa có sản phẩm nào thực sự ra đời nhưng các nhà nghiên cứu cho thấy những hi vọng. Họ dự định cho ra đời loại thuốc mà có hiệu quả trong 2-3 giờ sau ăn và giảm tác dụng trong 24 giờ. Người nam có thể uống thuốc này khi cần trước quan hệ. Các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm sự cộng tác từ các công ty dược phẩm có thể đẩy nhanh quá trình đem sản phẩm ra thị trường. Dựa trên sự đón nhận nhiệt tình của phương tiện truyền thông đại chúng như thế, cả nam lẫn nữ sẽ sẵn sàng cho sản phẩm này.

Những hiểu biết về các loại thuốc này như thế nào?
Phenoxybenzamine được biết là loại chẹn anpha (alpha-blockers). Nó ngăn chặn tác động của thông tin hoá học phóng thích từ tế bào thần kinh, được biết như là các nơ-ron adrenergic. Các cơ trơn của ống dẫn tinh được kiểm soát bởi loại tế bào thần kinh này (Kedia 1981). Các thông tin hoá học bị ngăn chặn bao gồm :epinephrine / adrenaline, norepinephrine / noradrenaline and dopamine. Thông thường, các tế bào đáp ứng với các phân tử tín hiệu này thông qua cơ trơn của cơ thể. Đó là lí do tại sao phenoxybenzamine là thuốc trị cao huyết áp hiệu quả: làm giảm cơ trơn dọc theo mạch máu, làm giảm huyết áp.
BS.Amobi và Smith nghiên cứu hiệu quả của alpha-blockers trên đoạn ống dẫn tinh lấy từ người trải qua phẫu thuật cắt ống dẫn tinh. Nhờ giá trị y học khác của alpha-blocker, chúng ta có thêm thông tin về tác động của nó lên hệ sinh sản nam giới. Nhiều loại thuốc alpha-blocker được dùng để điều trị u lành tính tiền liệt tuyến (BPH). BPH là tình trạng phì đại tiền liệt tuyến khá phổ biến ở nam giới lớn tuổi. Điều đó làm cho họ đi tiểu khó, và có thể dẫn tới nhiễm trùng đường tiểu. Điều trị với chẹn anpha làm giãn cơ trơn ở cố bàng quang, cho phép làm trống bàng quang hoàn toàn (Michel 2004). Những nghiên cứu khác cũng cho thấy alpha-blocker làm giảm co thắt của túi tinh (Hisasue 2006).
Dựa vào những thông tin này, cuối cùng chúng ta có thể thấy rằng sản phẩm của BS.Amobi và Smith sẽ có những nét đặc trưng nhất định. Đưa tới khả năng người đàn ông chỉ cần uống một viên thuốc sẽ trải qua cảm giác cực khoái bình thường nhưng thể tích tinh dịch giảm và có ít hoặc không có tinh trùng. Nếu thuốc làm tạo ra cảm giác cực khoái thực sự mà không xuất tinh, chúng sẽ đem lại nhiều lợi ích trong việc ngừa thai. Có thể giảm lây truyền HIV từ những người nam HIV (+). Bạn tình của những người nam sử dụng thuốc có thể hưởng lợi từ tình trạng ít tinh dịch-gia tăng biến động pH âm đạo, điều có thể dẫn tới huyết trắng hoặc nhiễm trùng khác. Tuy nhiên, tính khả thi cần được thẩm định khả năng về tác dụng phụ và cần có nhiều kiểm định về lâm sàng hơn nữa.

Chuyên mục: ,

Vắc-xin HIV

Chia sẻ bài viết này:
Vắc-xin HIV: Hiệu quả thử nghiệm trên người lên tới 90%
          Các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha cho biết 22/24 người khỏe mạnh (92%) có đáp ứng miễn dịch với HIV sau khi được tiêm vắc-xin MVA-B.


GS Mariano Esteban, trưởng dự án thuộc Trung tâm Công nghệ sinh học Quốc gia ở Madrid, cho biết: “Nó giống như việc ta đưa ra một bức tranh về HIV để cơ thể có thể nhận ra nếu gặp lại trong tương lai”. Vắc-xin này chứa 4 gen HIV khích thích các tế bào bạch cầu T và B.

          Tế bào B tạo ra kháng thể tấn công vi-rút trước khi chúng gây nhiễm cho các tế bào, trong khi tế bào T phát hiện và phá hủy những tế bào bị nhiễm bệnh.

          Nghiên cứu này cho thấy gần 3/4 số người tham gia thử nghiệm đã có kháng thể đặc hiệu HIV sau khi tiêm vắc-xin 11 tháng. Hơn 1/3 số đối tượng đã phát triển một dạng tế bào T chống lại HIV, được gọi là CD4+, trong khi hơn 2/3 số đối tượng phát triển một dạng tế bào khác được gọi là CD8+.

          Tính chung, 92% đã có đáp ứng miễn dịch. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cơ thể sẽ được bảo vệ khỏi HIV. Đáp ứng có thể không đủ để bảo vệ.

          GS Esteban thừa nhận rằng vắc-xin này mới chỉ ở giai đoạn ban đầu và cho thấy có triển vọng. Bước tiếp theo các nhà nghiên cứu sẽ xem xét vắc-xin này ở những người đã nhiễm HIV để xem nó có tác dụng liệu pháp giúp giảm lượng vi-rút hay không. Các nhà khoa học rất lạc quan cho rằng: “Vắc-xin MVA-B được chứng minh là có hiệu lực như nhiều loại vắc-xin HIV khác đang được nghiên cứu, hoặc thậm chí có thể hơn”.

          Một số loại vắc-xin HIV khác đang được nghiên cứu như vắc-xin HIV-v được phát triển bởi các nhà khoa học Anh, có thể giúp giảm 90% lượng vi-rút ở những người nhiễm HIV. Tuy nhiên, cho đến này hầu hết các thử nghiệm đều có quy mô nhỏ.

                                                                                                          Anh Khôi (Theo Telegraph)
                                                                                                               Nguồn dantri.com.vn

Chuyên mục: ,

8 thg 1, 2013

Phát hiện liên quan đến sỏi thận

Chia sẻ bài viết này:
Các chuyên gia vừa hé lộ một số nguyên nhân gây ra sỏi

thận.

Nghiên cứu mới đây của các chuyên gia thuộc Trường y ĐH Washington (Mỹ) vừa hé lộ một số nguyên nhân gây ra sỏi thận, trong đó đáng chú ý là việc phát hiện một loại gen dẫn tới chứng bệnh khá phổ biến này.
Theo thông tin từ tờ Times of India, nhóm chuyên gia do PGS.TS y khoa Jianghui Hou dẫn đầu đã tiến hành nghiên cứu trên chuột - loài có cấu tạo và chức năng thận hoạt động tương tự như con người, để khám phá những tác nhân làm tăng nguy cơ bị sỏi thận. Theo đó, nhóm phát hiện ngoài những yếu tố như uống ít nước, có chế độ ăn quá nhiều muối - vốn khiến nước tiểu đặc lại, tạo điều kiện để các khoáng chất như calci tích tụ, gây ra sỏi thận - thì một loại gen mang tên claudin-14 cũng là tác nhân làm tăng đến 65% nguy cơ bị sỏi thận.
Cụ thể, gien claudin-14 luôn ở trạng thái không hoạt động bên trong thận do bị “khóa” bởi 2 hai đoạn ARN ngắn của nhiễm sắc thể ADN.  Lúc này, hệ thống lọc của thận thực hiện tốt chức năng vốn dĩ của mình nên các khoáng chất như calci, magiê dễ dàng đi qua thận để được tái hấp thu vào máu và sau đó chuyển đến “nuôi sống” các tế bào trong cơ thể. Nhưng chỉ cần áp dụng chế độ ăn nhiều muối, uống ít nước thì 2 đoạn ARN sẽ “mở khóa” cho gen claudin-14 hoạt động và khi hoạt động của gien này gia tăng sẽ ngăn trở quá trình tái hấp thu khoáng chất calci vào máu. Do calci không thể hấp thu vào máu nên lượng calci dư thừa sẽ đi vào nước tiểu và dần dần theo thời gian dễ hình thành nên sỏi trong thận hay bàng quang. Khi kích thước sỏi gia tăng thì xuất hiện nhiều cơn đau do sỏi dễ bị kẹt ở niệu quản, bàng quang hoặc niệu đạo, cản trở đường lưu thông của nước tiểu và làm thận bị ứ nước.
Từ phát hiện nói trên, nhóm nghiên cứu tỏ ra lạc quan khi hiểu được cơ chế ảnh hưởng của gien claudin-14 để có thể tiến hành thử nghiệm những phương thức ngăn ngừa - điều trị sỏi thận mới trên người. Chẳng hạn như phát triển loại thuốc kiểm soát hoạt động của gien claudin-14 nhằm hạn chế việc hình thành sỏi thận; hay phát triển phương pháp đo hàm lượng protein chứa claudin-14 hiện diện trong nước tiểu bài tiết ra ngoài, để từ đó áp dụng chế độ dinh dưỡng ngăn không cho các khoáng chất như calci tích tụ, gây ra sỏi ngay từ rất sớm.

Theo cimsi.vn
Chuyên mục: , ,

Trang điểm hại trí não

Chia sẻ bài viết này:


 Một cuộc nghiên cứu ở Mỹ dựa trên 22 nhãn hiệu son môi cho thấy rằng 55% các loại son có chứa chì gây hại cho sức khỏe người sử dụng, đặc biệt ảnh hưởng đến trí não.
Các tổ chức hợp tác giữa các phòng thí nghiệm đã tiết lộ: 12/22 mẫu son môi được xét nghiệm dương tính với chất chì độc hại, tỉ lệ chì lên đến 3,22/triệu.
Tiến sĩ Sean Palfrey, giám đốc y tế Chương trình phòng chống ngộ độc chì Boston, cảnh báo rằng ngay cả khi mức chì trong mỹ phẩm ở mức thấp nhất, sức khỏe thể chất và tinh thần của con người vẫn bị đe dọa nghiêm trọng.
Ông nói: “Ngay cả khi chì ở mức thấp nhất, nó vẫn có thể làm hại đến IQ, hành vi và khả năng học hỏi của bạn”. Giới khoa học cũng nhấn mạnh việc bảo vệ trẻ em và phụ nữ mang thai tránh xa chất độc này.
Hiện vẫn chưa có tiêu chuẩn cụ thể từ Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) về thành phần son môi. Đơn vị nghiên cứu cũng từ chối tiết lộ tên tuổi của 12 loại son môi được thử nghiệm, chỉ cho biết họ đã chọn ngẫu nhiên hàng loạt mỹ phẩm từ các cửa hàng và nhà thuốc ở Mỹ.
Các nhà sản xuất vốn không cố ý đưa chì vào son môi, nhưng trong thành phần tạo màu cho son chứa hàm lượng chì tự nhiên được tìm thấy trong đất, nước và không khí.
Ông Janet Nudelman thuộc Chiến dịch Mỹ phẩm an toàn, nhấn mạnh: “Hơn một nửa số son môi chứa chì độc hại, nhưng nửa còn lại vẫn an toàn. Điều này chứng tỏ người ta hoàn toàn có thể sản xuất một thỏi son không chì”.
Một nghiên cứu năm 2010 của FDA cho thấy tỉ lệ chì cao nhất trong son môi là 7 phần triệu. Một khảo sát đầu năm nay cho thấy 400 màu son nổi tiếng chứa chì độc hại, trong đó có các tên tuổi nổi tiếng như L’Oreal, Maybelline, Cover Girl, NARS, Stargazer…

Minh Minh.CHITI
Theo nld.com.vn
Chuyên mục: , ,

Nhật Bản đã tìm ra tế bào chống ung thư.

Chia sẻ bài viết này:
 
 Một nhóm nghiên cứu Đại học Tokyo đã thành công trong việc tạo ra các tế bào T có khả năng chống bệnh ung thư...
Một nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Y tế thuộc trường Đại học Tokyo cho biết, họ đã thành công trong việc tạo ra các tế bào T, một dạng tế bào máu trắng có khả năng chống các bệnh ung thư và điều trị bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. 
Theo nghiên cứu này, các tế bào T được tạo ra thông qua quá trình nuôi cấy tế bào iPS với các tế bào máu trắng khác trong khoảng thời gian 10 tuần.
Các tế bào T mới có thể phát triển một cách nhanh chóng theo cấp số nhân từ 10-100 lần so với hình thức ban đầu và có tuổi thọ kéo dài. Giáo sư Hiromitsu Nakauchi, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, với kết quả nghiên cứu này, các nhà khoa học Nhật Bản có thể tạo ra các tế bào T trẻ và khỏe mạnh với số lượng lớn; đồng thời các tế bào tái sinh vẫn giữ được khả năng nhận ra các loại virus gây bệnh ung thư và virus HIV/AIDS.
Với kết quả nghiên cứu này, các nhà khoa học Nhật Bản hy vọng các tế bào có khả năng tái sinh có thể giúp ngành y trên thế giới sử dụng trong việc điều trị các bệnh nhân mắc bệnh ung thư và bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng cho biết ưu tiên tiếp theo của họ là đánh giá khả năng hoạt động của loại tế bào trong cơ thể người bệnh.
Trước đó, một nhóm nghiên cứu với sự hỗ trợ của Viện Khoa học RIKEN cũng đã thành công trong việc nghiên cứu sử dụng công nghệ tế bào iPS làm trẻ hóa tế bào T giúp ngăn ngừa và phòng chống các virus gây bệnh ung thư da.

Minh Minh.CHITI
Theo vov.vn
Chuyên mục: , ,

8 thg 12, 2012

Phẫu thuật cột sống bằng robot - Chinh phục công nghệ y học đỉnh cao

Chia sẻ bài viết này:

Mới chỉ có 5 năm thành lập nhưng Khoa Phẫu thuật cột sống (PTCS) - Viện Chấn thương chỉnh hình Bệnh viện (BV) Việt Đức đã được biết đến với nhiều ứng dụng kỹ thuật tiến bộ: kỹ thuật bắt vít qua da, lấy thoát vị qua da, bơm xi măng sinh học, thay đĩa đệm nhân tạo cột sống cổ… Ngày 5/12 vừa qua, với sự giúp đỡ, chuyển giao kỹ thuật của các chuyên gia đến từ CHLB Đức, các bác sĩ Khoa PTCS BV Việt Đức đã tiến hành PTCS bằng robot định vị chính xác. Đây cũng là BV đầu tiên trong nước và khu vực Đông Nam Á ứng dụng công nghệ này.

Phẫu thuật cột sống bằng robot - Chinh phục công nghệ y học đỉnh cao 1

Các bác sĩ lên kế hoạch cho 2 bệnh nhân trước mổ.

Sống chung với chứng đau cột sống kinh niên

Bệnh nhân (BN) Nguyễn Thị Thuận (49 tuổi , Sơn Tây) bị thoát vị đĩa đệm, đã mổ thoát vị tại BV tỉnh nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm mà còn tiến triển nặng thêm, hai mông sưng đau khiến bà không ngồi được. Thêm vào đó, hai bàn chân tê rát như phải bỏng khi đứng lâu khiến bà phải đến khám và mổ lại tại BV Việt Đức. Bà Thuận được các bác sĩ tư vấn về công nghệ mổ bằng robot và là một trong những BN đầu tiên được ứng dụng công nghệ này.

BN Thôn Thị Thanh (66 tuổi, Hà Tĩnh) bị đau cột sống trên 10 năm nay. Từ đau lưng, bà đau buốt xuống chân phải, đi bộ 200m là phải nghỉ vì đau. Trên hình ảnh Xquang và cộng hưởng từ cho thấy bà bị trượt đốt sống độ 1, hẹp ống sống L4-L5. Bà Thanh cũng được các bác sĩ quyết định phẫu thuật cố định cột sống bằng robot.

Phẫu thuật cột sống bằng robot - Chinh phục công nghệ y học đỉnh cao 2

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch đang sử dụng robot bắt vít trong mổ.

Công nghệ đỉnh cao: lợi ích cho cả bệnh nhân và bác sĩ

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch - Phó Giám đốc BV, Viện trưởng Viện Chấn thương chỉnh hình, Trưởng khoa PTCS cho biết: Trong PTCS, xác định đúng vị trí cần bắt vít rất quan trọng, mục đích để tránh gây tổn thương đến các dây thần kinh. Vì bắt vít bằng tay nên phải kết hợp với phương pháp chụp Xquang để đảm bảo độ chính xác. Hơn nữa, kỹ thuật mổ ít xâm lấn cũng đồng nghĩa với việc các bác sĩ sẽ bị giới hạn khoảng nhìn trong vùng cần thao tác so với mổ mở, do đó sẽ phải chụp nhiều ảnh Xquang để quan sát hơn. Việc phát tia X nhiều có nguy cơ gây ung thư cao cho bệnh nhân và phẫu thuật viên. Sử dụng robot thay thế sẽ giúp các bác sĩ định vị và tiến hành các thao tác chính xác nhất trên xương sống của bệnh nhân (độ chính xác tới 1mm (1/25 inch)) trong khi lượng tia phóng xạ phát ra được giảm thiểu tối đa để tránh gây hại cho cả bác sĩ và người bệnh.

Cũng theo PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch, hệ thống robot sẽ thay đổi kỹ thuật mổ cột sống ít xâm lấn từ phương pháp hoàn toàn dùng tay của các bác sĩ trước đây sang phương pháp dùng sự hỗ trợ của robot. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy độ chính xác khi ứng dụng robot là 98,3% (nếu không sử dụng robot hỗ trợ, tỷ lệ vít bị bắt lệch vào khoảng trên 10%), chưa có trường hợp nào gây tổn thương vĩnh viễn dây thần kinh. Sử dụng robot sẽ giảm những tổn thương không cần thiết đến các vùng mô và tế bào xung quanh. Do đó, BN sẽ tránh được những rủi ro trong phẫu thuật, đặc biệt là việc lên kế hoạch hoàn hảo trước mổ. BN giảm nguy cơ phải mổ lại, mất máu ít hơn, ít sẹo hơn, ít đau hơn, hồi phục nhanh hơn.

Sự phối hợp hoàn hảo

Trước khi tiến hành phẫu thuật, các bác sĩ sử dụng hệ thống robot hoạch định trước kế hoạch cho ca mổ dựa trên hình ảnh chụp cắt lớp CT mô phỏng cột sống của bệnh nhân dưới dạng 3D. Trong suốt quá trình phẫu thuật, hệ thống robot giúp bác sĩ phẫu thuật định vị chính xác vị trí theo kế hoạch đã vạch sẵn từ trước với độ chính xác cao nhất.

Phẫu thuật cột sống bằng robot - Chinh phục công nghệ y học đỉnh cao 3

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch thăm bệnh nhân Thanh sau khi phẫu thuật.

Kế hoạch lập trình mổ cho hai BN Thôn Thị Thanh và Nguyễn Thị Thuận thực hiện ngay tại phòng mổ. BN được gây mê; tiến hành gắn khung định vị trên xương sống. Tiếp theo là đồng bộ hoá hình ảnh 3D (hình ảnh Xquang đứng và xiên với ảnh chụp CT của BN trước mổ kết nối thông tin với nhau để máy hiểu và thực hiện). Chọn trạm điều hành cho robot (robot hoạch định chính xác hướng của vít, vị trí đặt vít). PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch cho biết: cả 2 BN đều tiến hành bắt 4 vít. Trước đây, để bắt 4 vít, với một phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm cần 1 tiếng 30 phút. Nay với hướng dẫn của robot, bắt 4 vít chỉ diễn ra trong vòng 30 phút. Nhưng trường hợp của BN Thanh do bệnh lý phức tạp hơn vì vừa phải cố định cột sống vừa giải ép thần kinh và ghép xương liên thân đốt nên ca mổ đã diễn ra trong 2 giờ đồng hồ. BN Thuận vì mổ lại (do đã mổ thoát vị đĩa đệm cách đây 7 tháng) nên dính nhiều, các cấu trúc giải phẫu bị thay đổi, ca mổ cũng diễn ra trong thời gian tương đương. Sau mổ, cả 2 BN đều tỉnh táo, đỡ đau nhiều. BN Thuận nói chân đã hết hẳn cảm giác tê.

Hiện tại, chi phí một ca PTCS bằng robot khoảng từ 80 - 100 triệu đồng (cao hơn so với 1 ca PTCS thông thường 30-40 triệu). Việc ứng dụng công nghệ robot định vị chính xác trong PTCS đầu tiên tại Việt Nam và Đông Nam Á mang đến cơ hội điều trị tốt hơn cho những BN mắc các bệnh lý về cột sống, khẳng định tay nghề và trình độ các bác sĩ Việt Nam luôn vươn tới chinh phục các kỹ thuật đỉnh cao của y học.

Bài và ảnh: Mai Linh

Chuyên mục: ,